Nội quy - Chính sách
Thống kê
Hôm nay : 4
Tháng 08 : 55
Năm 2022 : 5.152
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bài tuyên truyền tháng 4/2022: "THỪA CÂN BÉO PHÌ Ở TRẺ EM VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG" - Trường MN Phong Châu

BÀI TUYÊN TRUYỀN THÁNG 4

TRƯỜNG MẦM NON PHONG CHÂU

THỪA CÂN BÉO PHÌ Ở TRẺ EM VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG

 

Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, các con cần được nuôi dưỡng,chăm sóc, bảo vệ và cần được học tập theo đúng cách ngay từ khi còn nhỏ. Tuy nhiên hiện nay trên thực tế có nhều trẻ bị mắc bệnh thừa cân béo phì. Vậy các bậc cha mẹ cần biết: “ Bệnh thừa cân béo phì ở trẻ nhỏ và cách phòng tránh cho trẻ.”

1.Thừa cân béo phì là gì?

Thừa cân béo phì là tình trạng cơ thể tích tụ quá nhiều mỡ do hậu quả của sự mất cân bằng năng lượng, có nghĩa là năng lượng đưa vào cơ thể vượt quá năng lượng tiêu hao

Hiện nay, thừa cân béo phì ở trẻ nhỏ đang là vấn đề thách thức trên toàn cầu.

Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, riêng năm 2020, tỷ lệ thừa cân, báo động khu vực thành thị đẫ chạm ngưỡng 26,8%, nông thôn là 18,3%, miền núi là 6,9%. Điều này đồng nghĩa với, cứ 10 học sinh thành thị lại có 4 em bị thừa cân, béo phì

Qua những số liệu trên, có thể thấy tỷ lệ béo phì ở trẻ nhỏ đang dần tăng lên, đặc biệt là ở những thành phố lớn. 

2. Nguyên nhân.

Vì sao trẻ bị thừa cân béo phì?

Trẻ bị thừa cân béo phì là do chế độ ăn giàu năng lượng vượt quá nhu cầu nhất là năng lượng từ chất béo, tuy nhiên ăn nhiều chất đạm, bột đường cũng bị thừa cân béo phì vì các chất này khi vào cơ thể dư thừa đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ. Trong trường hợp trẻ ít hoạt động thể lực là yếu tố song hành, nguy cơ cao gây thừa cân béo phì. Trẻ thường dành thời gian cho hoạt động tĩnh tại như xem ti vi, đọc chuyện, chơi điện tử...mà ít luyện tập thể dục thể thao. Các nhà nghiên cứu khoa học cũng cho biết yếu tố di truyền về thừa cân béo phì thì chưa được chứng minh đầy đủ, tuy nhiên trong gia đình cha mẹ bị thừa cân béo phì thì con cái có nguy cơ bị thừa cân béo phì. Có các nguyên nhân

2.1. Béo phì nguyên phát

Do mất cân bằng năng lượng: Tăng lượng thu vào nhiều hơn nhu cầu của cơ thể hoặc giảm lượng tiêu hao trong thời gian dài làm tăng tích tụ mỡ trong cơ thể đặc biệt là ở bụng, mông, đùi và vai.

Dạng béo phì đơn thuần thường gặp ở những trẻ háu ăn, ăn nhiều thức ăn nhanh, nhiều dầu mỡ, bánh kẹo, uống nước ngọt và ít hoạt động. 

2.2. Béo phì thứ phát

Béo phì ở trẻ em thứ phát thường gặp trong các bệnh lý nội tiết, bệnh lý di truyền, do dùng thuốc

2.3 nguyên nhân khác.

Bối cảnh giãn cách xã hội kéo dài khiến trẻ ăn uống tự do, đầy đủ hơn, có ít cơ

hội tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời, dẫn đến nguy cơ thừa cân, béo phì

3. Những biến chứng nguy hiểm của thừa cân béo phì ở trẻ em.

Trẻ bị thừa cân béo phì sẽ gây ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Béo phì ở trẻ em là yếu tố nguy cơ béo phì ở người lớn. Béo phì ở trẻ em ảnh hưởng đến sức khỏe khi trưởng thành. Vì ở người béo phì có nguy cơ mắc các bệnh tăng huyết áp dẫn đến bệnh tai biến mạch máu não, tăng cholesterol dẫn đến nhồi máu cơ tim...và có nguy cơ mắc các bệnh lý khác như bệnh đái tháo đường, bệnh sỏi mật, cơ xương khớp, bệnh ung thư vú, tử cung, tiền liệt tuyến. Bên cạnh đó, trẻ béo phì thường vụng về, chậm chạp, hay bị bạn bè trêu chọc ảnh hưởng đến tâm lý và khả năng học tập.

Không chỉ ảnh hưởng đến ngoại hình, béo phì còn gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng khác cho trẻ, bao gồm:

.Bệnh lý tim mạch 

Trẻ em bị béo phì có nguy cơ bị bệnh lý tim mạch ở tuổi trưởng thành như: tăng huyết áp, xơ vữa động mạchbệnh mạch vành

  • Tăng huyết áp: 
  • Rối loạn mỡ máu: 
  • Xơ vữa động mạch: 
  • Các bằng chứng ngày càng cho thấy mối liên quan giữa béo phì ở trẻ em và bệnh tim mạch cũng như các biến chứng tim mạch cấp tính khi trưởng thành. Tiến trình “thông thường” của xơ vữa động mạch đã bị thay đổi và “thúc đẩy” hình thành mảng xơ vữa sớm hơn, nghĩa là bình thường khoảng 50 tuổi mới bắt đầu xuất hiện các mảng xơ vữa trong động mạch, nhưng những trẻ bị rối loạn mỡ máu từ nhỏ thì sẽ sớm bị xơ vữa động mạch hơn bình thường, từ khoảng 10 tuổi.
  • Đặc biệt, điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết có đến 53% phụ huynh không biết con mình bị thừa cân hoặc đánh giá thấp hơn mức bình thường. Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu mới đây đã xác định béo phì là một yếu tố nguy cơ tiến triển các triệu chứng COVID-19 nghiêm trọng có thể phải nhập viện, phải chăm sóc đặc biệt và hỗ trợ máy thở trong giai đoạn đầu của bệnh.

4.  Làm thế nào để giảm cân cho trẻ bị thừa cân béo phì?

Điều cần thiết là phải điều chỉnh chế độ ăn hợp lý. Nguyên tắc chính để điều trị

thừa cân béo phì ở trẻ em là điều chỉnh chế độ ăn hợp lý kết hợp với hoạt động thể lực. Nên hạn chế các loại bánh kẹo, đường, mật, sữa đặc có đường, sữa béo nhưng có thể uống sữa gầy (sữa bột tách bơ). Khi chế biến thức ăn nên làm các món hấp, luộc, hạn chế món quay, xào, rán. Ăn nhiều rau xanh, hoa quả ít ngọt. Và cần có chế độ ăn điều độ, không ăn quá no, không được bỏ bữa, không để trẻ quá đói, ăn nhiều vào buổi sáng, không nên ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ. Đồng thời, các cha mẹ cần khuyến khích trẻ tham gia các môn thể dục thể thao như chạy, bơi, nhảy dây, đi bộ...hạn chế xem tivi, chơi điện tử. Cần lưu ý, thường xuyên theo dõi cân nặng, chiều cao, khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ và thời gian hoạt động của trẻ.

5.  Làm thế nào để dự phòng thừa cân béo phì?
 Dự phòng thừa cân béo phì chủ yếu là dinh dưỡng hợp lý và tăng cường hoạt động thể lực. Khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung cần có khẩu phần ăn hợp lý đảm bảo đủ 4 nhóm thực phẩm (chất bột đường, chất đạm, chất béo và chất xơ, vitamin, khoáng chất).

6. Những loại thực phẩm nên dùng :


* Nhóm cung cấp chất đạm (Protid): nên ăn thịt nạc, thịt gia cầm bỏ da, cá nạc, tôm, cua, đậu phụ, lòng trắng trứng.
* Nhóm cung cấp chất béo (Lipid): nên ăn dầu thực vật ở mức vừa phải
 Nhóm cung cấp năng lượng (Glucid): nên ăn số lượng vừa phải, tăng cường ăn các loại còn nguyên hạt: gạo, ngô, khoai, tuy nhiên để giảm bớt năng lượng có thể ăn các loại đã chế biến như: bún, bánh phở,miến, bánh đa.
* Nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng: các loại rau xanh như: rau cần, bắp cải, các loại rau cải, bí xanh, su hào, rau muống, rau đay, rau dền, các loại quả ít ngọt: dưa hấu, thanh long, cam quýt, mận, lê, táo, nho, dưa chuột (dưa leo).
7. Những loại thực phẩm nên hạn chế :


 + Mỡ động vật, thịt mỡ, bơ, pho mát, lòng đỏ trứng, phủ tạng động vật: tim, gan, thận, óc, dạ dày, tràng.
 + Ăn mặn.
+
 Nước giải khát có đường, các loại kẹo, bánh ngọt.
 +
 Các loại sữa bột nguyên kem, sữa đặc có đường
 + Các loại hoa quả quá ngọt: chuối, mít, na, xoài, vải, nhãn.
 +
Ngoài việc áp dụng một chế độ ăn đặc biệt, trẻ em cũng nên duy trì việc luyện tập thể thao ít nhất 30 phút /ngày với các loại hình như đi bộ, bơi, thể dục nhịp điệu, đạp xe đạp…hạn chế xem vô tuyến, chơi điện tử và thức quá khuya. Ngoài ra, cần theo dõi tăng trưởng của trẻ ở mọi lứa tuổi qua chỉ số cân nặng chiều cao nhằm phát hiện sớm thừa cân béo phì để kịp thời điều chỉnh chế độ ăn và sinh hoạt của trẻ./.

                                                                        Người viết : Quách Thị Hoài

 


Tác giả: Trường Mầm non Phong Châu
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Video Clips
Lịch sự kiện
Fanpage Facebook